Các hình thức lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng – P1

Tuỳ theo quy mô, tính chất, nguồn vốn xây dựng công trình, người quyết định đầu tư hoặc chủ đẩu tư xây dựng công trình lựa chọn nhà thầu theo các hình thức sau đây: Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế; Chỉ định thầu; Lựa chọn nhà thầu thiết kế kiến trúc công trình xây dựng.

1. Đấu thầu rộng rãi

Điều 24 luật đấu thầu quy định:
– Đấu thầu rộng rãi được thực hiện để lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng công trình và không hạn chế sô’ lượng nhà thầu tham gia.
– Bên mời thầu phải thông báo rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng về điều kiện, thời gian nộp hồ sơ dự thầu.
– Bên dự thầu chỉ được tham dự khi có đủ điều kiện nãng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng phù hợp với loại, cấp công trình theo điều kiện thông báo của bên mời thầu.
– Bên mời thầu phải chịu trách nhiệm công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng kết quả xét thầu, giá trúng thầu.
Điều 18 Luật Đấu thầu quy định:
– Việc lựa chọn nhà thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 của Luật này phải áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, trừ trường hợp quy định tại các điều từ Điều 19 đến Điều 24 của Luật này.
– Đối với đấu thầu rộng rãi, không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự. Trước khi phát hành hồ sơ mời thầu, bên mời thầu phải thông báo mời thầu theo quy định tại Điều 5 của Luật này để các nhà thầu biết thông tin tham dự. Bên mời thầu phải cung cấp hồ sơ mời thầu cho các nhà thầu có nhu cầu tham gia đấu thầu. Trong hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điểu kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng.

2. Đấu thầu hạn chế
Điều 100 luật xây dựng quy định:
– Đấu thầu hạn chế được thực hiện để lựa chọn nhà thầu tư vấn xây dựng, nhà thầu thi công xây dựng công trình đối với công trình xây dựng có yêu cầu kỹ thuật cao và chỉ có một số nhà thầu có đu điều kiện nãng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng được mời tham gia dự thầu.
– Đối với dự án đầu tư xây dựng công trình, công trình sử dụng vốn nhà nước thì không cho phép 2 doanh nghiệp trở lên thuộc cùng một tổng công ty, tổng công ty với công ty thành viên, công ty mẹ và công ty con, doanh nghiệp liên doanh với một bên góp vốn trong liên doanh cùng tham gia đấu thầu trong một gói thầu.
Điều 19 Luật Đấu thầu quy định:
a) Đấu thầu hạn chế được áp dụng trong các trường họp sau đây:
– Theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho gói thầu;
– Gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu có khá năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu.
b) Khi thực hiện đấu thầu hạn chế, phải mời tối thiếu năm nhà thầu được xác định là có đủ nãng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu; trường hợp thực tế có ít hơn năm nhà thầu, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn chế hoặc áp dụng hình thức lựa chọn khác.

3. Chỉ định thầu
Điều 101 Luật Xây dựng quy định:

a) Người quyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư xây dựng công trình được quyền chỉ định trực tiếp một tổ chức, cá nhân có đủ điểu kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng đê thực hiện công việc, công trình với giá hợp lý trong các trường hợp sau đây:
– Công trình bí mật nhà nước, công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp, công trình tạm;
– Công trình có tính chất nghiên cứu thử nghiệm;
– Công việc, công trình, hạng mục công trình xây dựng có quy mô nhỏ, đơn giản theo quy định cứa Chính phủ;
– Tu bố, tôn tạo, phục hồi các công trình di sản vãn hoá, di tích lịch sử – vãn hoá;
– Các trường hợp đặc biệt khác được người có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép.

b) Người có thẩm quyền chỉ định thầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc lựa chọn nhà thầu có đủ năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng.

c) Tố chức, cá nhân được chỉ định thầu phải có đủ năng lực hoạt động xây dựng, nâng lực hành nghề xây dựng phù hợp với công việc, loại, cấp công trình; có tài chính lành mạnh, minh bạch.

Điều 20 Luật Đấu thầu quy định:

a) Chi định thầu được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
– Sự cố bất khả kháng do thiên tai, địch họa, sự cố cần khắc phục ngay thì chú đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó được chí định ngay nhà thầu để thực hiện; trong trường hợp này chú đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó phải cùng với nhà thầu được chỉ định tiến hành thủ tục chỉ định thầu theo quy định trong thời hạn không quá mười lãm ngày kể từ ngày chỉ định thầu;
– Gói thầu do yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài;
– Gói tháu thuộc dự án bí mật quốc gia; dự án cấp bách vì lợi ích quốc gia, an ninh an toàn năng lượng do Thủ tướng Chính phủ quyết định khi thấy cần thiết;
– Gói thầu mua sắm các loại vật tư, thiết bị đế phục hồi, duy tu, mở rộng công suất của thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất mà trước đó đã được mua từ một nhà thầu cung cấp và không thể mua từ các nhà thầu cung cấp khác do phải bảo đảm tính tương thích của thiết bị, công nghệ;
– Gói thấu dịch vụ tư vấn có giá gói thầu dưới nãm trãm triệu đồng, gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp có giá gói thầu dưới một tỷ đồng thuộc dự án đầu tư phát triển; gói thầu mua sắm hàng hóa có giá gói thầu dưới một trăm triệu đồng thuộc dự án hoặc dự toán mua sắm thường xuyên; trường hợp thấy cần thiết thì tổ chức đấu thầu.

b) Khi thực hiện chỉ định thầu, phải lựa chọn một nhà thầu được xác định là có đủ nãng lực và kinh nghiệm đáp ứng các yêu cầu của gói thầu và phải tuân thú quy trình thực hiện chỉ định thầu do Chính phủ quy định.

c) Trước khi thực hiện chỉ định thầu quy định tại các điểm thuộc mục a) trên đây, dự toán đối với gói thầu đó phải được phê duyệt theo quy định.