Các hình thức lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng – P2

4. Thi tuyển thiết kế kiến trúc công trình xây dựng
Điều 24 luật xây dựng quy định:
– Việc lựa chọn nhà thầu thiết kế kiến trúc công trình xây dựng được thực hiện đối với các công trình xây dựng quy định tại Điều 55 của Luật này.
– Tác giá cúa phương án thiết kế kiến trúc được lựa chọn được ưu tiên thực hiện các bước thiết kế tiếp theo khi có đủ điều kiện năng lực hoạt động thiết kế xây dựng, năng lực hành nghề thiết kế xây dựng công trình.
Điều 45 Nghị định 58/2008/NĐ-CP quy định:
Việc lựa chọn nhà thầu tư vấn đối với gói thầu thiết kế kiến trúc công trình xây dựng thông qua thi tuyển quy định tại khoản 3 Điều 97 của Luật Xây dựng được thực hiện theo quy định tại Điều 102 của Luật Xây dựng.

5. Tự thực hiện

5.1. Điêu 23 luật đấu thầu quy định
– Hình thức tự thực hiện được áp dụng trong trường hợp chủ đầu tư là nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện gói thầu thuộc dự án do mình quản lý và sử dụng.
– Khi áp dụng hình thức tự thực hiện, dự toán cho gói thầu phải được phê duyệt theo quy định. Đơn vị giám sát việc thực hiện gói thầu phải độc lập với chủ đầu tư về tổ chức và tài chính.

5.2. Điều 45 Nghị định 58/2008/NĐ-CP quy định
Việc áp dụng hình thức tự thực hiện phải được phê duyệt trong kế hoạch đâu thầu trên cơ sở tuân thủ quy định tại Điều 23 của Luật Đấu thầu và điểm a khoản 1 của các Điểu 41, Điều 50, Điểu 57, Điều 75, Điểu 89 và điểm b khoán 2 Điều 45 cùa Luật Xây dựng và theo quy định cụ thế như sau:

a) Chủ đầu tư lựa chọn theo quy định của Luật Đấu thầu một nhà thầu tư vấn giám sát độc lập với chủ đầu tư về tổ chức và tài chính theo quy định cúa pháp luật. Chú đầu tư phái cung cấp các hồ sơ cần thiết đế nhà thầu tư vấn giám sát thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Nhà thầu tư vấn giám sát có nhiệm vụ sau đây:
– Giám sát việc thực hiện gói thầu của chủ đầu tư theo đúng phương án, giải pháp thực hiện mà chủ đầu tư đã đưa ra;
– Kiểm tra các loại hàng hoá, vật tư, thiết bị dùng cho gói thầu;
– Nghiệm thu khối lượng công việc do chủ đầu tư thực hiện làm cơ sở cho việc thanh toán.

c) Khi áp dụng hình thức tự thực hiện, chủ đầu tư phải lựa chọn nhà tư vấn giám sát đối với các nội dung công việc mà pháp luật chuyên ngành có quy định.
Trường hợp áp dụng hình thức tự thực hiện đối với các gói thầu cải tạo, sửa chữa lớn các thiết bị, dây chuyền sản xuất không buộc phải thuê tư vấn giám sát.
Trường hợp các gói thầu áp dụng hình thức tự thực hiện mà pháp luật chuyên ngành có quy định phải được giám sát khi thực hiện nhưng không có nhà tư vấn giám sát độc lập quan tâm hoặc không lựa chọn được nhà tư vấn giám sát độc lập do gói thầu được thực hiện tại các vùng sâu, vùng xa theo quy định cúa pháp luật hiện hành liên quan, gói thầu có giá trị nhỏ dưới 1 tỷ đồng thì chủ đầu tư phải thực hiện giám sát cộng đồng theo quy định của pháp luật vể giám sát đầu tư của cộng đồng.

d) Khi áp dụng hình thức tự thực hiện, chủ đầu tư phải bảo đảm có đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện toàn bộ công việc thuộc gói thầu và phải bảo đảm việc tự thực hiện của chủ đầu tư mang lại hiệu quả cao hơn so với việc lựa chọn nhà thầu khác để thực hiện gói thầu cũng như phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
– Chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động và ngành nghề kinh doanh (theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc quyết định thành lập) phù họp VỚI yêu cáu cùa gói thầu;
– Đủ nhân lực chủ chốt, cán bộ, công nhân kỹ thuật sử dụng cho gói thầu thuộc chú đầu tư (trừ lao động phổ thông); đủ máy móc, thiết bị dùng để thi công cho gói thầu và phải thuộc sở hữu của chú đầu tư hoặc chủ đầu tư phải chứng minh được khả năng huy động được máy móc, thiết bị dùng cho gói thầu đáp ứng yêu cầu vể tiến độ thực hiện gói thầu.

e) Trong quá trình thực hiện nếu chủ đầu tư bị phát hiện chuyển nhượng khối lượng công việc với tổng số tiền cao hơn 10% giá trị tự thực hiện thì chú đầu tư bị coi là không đủ năng lực tự thực hiện gói thầu và vi phạm khoản 14 Điều 12 của Luật Đấu thầu.

6. Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp khác
Điều 45 Nghị định 58/2008/NĐ-CP quy định:
– Căn cứ vào tính chất đặc thù của gói thầu mà không thể áp dụng được hoặc không đu điểu kiện áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu được quy định từ Điều 18 đến Điều 23 của Luật Đấu thầu và Điều 97 của Luật Xây dựng, chủ đầu tư trình Thủ tướng Chính phú phương án lựa chọn nhà thầu trên cơ sở bảo đảm mục tiêu cạnh tranh và hiệu quả kinh tế, đồng thời gửi cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ quản lý ngành để có ý kiến trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
– Trường hợp có đặc thù vể đấu thầu quy định ở luật khác thì thực hiện theo quy định cúa nghị định hướng dẫn thi hành luật đó.
Điểu 23 Luật Đấu thầu quy định:
Trường hợp gói thầu có đặc thù riêng biệt mà không thế áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu quy định tại các điều từ Điều 18 đến Điểu 23 của Luật này thì chú đầu tư phái lập phương án lựa chọn nhà thầu, bảo đảm mục tiêu cạnh tranh và hiệu quá kinh tế trình Thú tướng Chính phú xem xét, quyết định.

7. Hình thức cấm tham gia hoạt động đấu thầu

7.1. Hình thức cấm tham gia hoạt động đấu thầu Điểu 66 Nghị định 58/2008/NĐ-CP quy định:
Tuỳ theo mức độ vi phạm mà áp dụng hình thức cấm tham gia hoạt động đấu thầu, cụ thế như sau:

a) Cấm tham gia hoạt động đấu thầu từ 6 tháng đến 1 nãm đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
– Vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 12 của Luật Đấu thầu;
– Vi phạm quy định tại khoản 5 Điểu 12 của Luật Đấu thầu, cụ thể như sau: Tổ chức, cá nhân lập, thấm định, phê duyệt hồ sơ mời thầu đối với gói
thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp, gói thầu lựa chọn tổng thầu xây dựng trong đó nêu yêu cầu về nhãn hiệu, xuất xứ hàng hoá cụ thê trong hồ sơ mời thầu;
– Cá nhân thuộc chủ đầu tư, bên mời thầu, tổ chuyên gia đấu thầu, tư vấn đấu thầu, cơ quan, tổ chức thẩm định đấu thầu vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 12 của Luật Đấu thầu;
– Vi phạm quy định tại khoản 6 Điều 12 của Luật Đấu thầu;
– Vi phạm quy định tại khoản 7 Điều 12 của Luật Đấu thầu, cụ thể như sau: Người quyết định đầu tư cho phép chia dự án thành các gói thầu trái với
quy định tại khoản 4 Điều 6 của Luật Đấu thầu để thực hiện chỉ định thầu hoặc tạo cơ hội cho số ít nhà thầu tham dự thầu;
– Vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 12 của Luật Đấu thầu, cụ thể như sau: Chú đầu tư bên mời thầu chấp nhận và đề nghị trúng thầu đối với nhà
thầu tham gia đấu thầu cung cấp hàng hoá, xây lắp cho gói thầu thuộc dự án mà nhà thầu này trước đó đã cung cấp dịch vụ tư vấn, trừ trường hợp đối với: gói thầu EPC, gói thầu lựa chọn tổng thầu thiết kế và thi công, tổng thầu chìa khoá trao tay;
– Vi phạm quy định tại khoản 10 Điều 12 của Luật Đấu thầu, cụ thê như sau:
Cá nhân trực tiếp tham gia tổ chức đấu thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu thuộc
chu đầu tư, bên mời thầu, thành viên tổ chuyên gia đấu thầu, tư vấn đấu thầu, cá nhân trực tiếp tham gia thấm định kết quả lựa chọn nhà thầu thuộc cơ quan, tổ chức thẩm định và người ký quyết định về kết quả lựa chọn nhà thầu không rút khỏi công việc được phân công khi người ký đơn dự thầu là người thân của mình (cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng, vợ hoặc chồng, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh chị em ruột);
– Vi phạm quy định tại khoản 11 Điều 12 của Luật Đấu thầu, cụ thể như sau:
Tổ chức, cá nhân thuộc bên mời thầu, chủ đầu tư, kho bạc nhà nước, cơ
quan quản lý tài chính, ngân hàng, cơ quan nghiệm thu gây khó khãn trong thủ tục cấp phát, thanh quyết toán theo hợp đồng đã ký giữa chú đầu tư và nhà thầu;
– Vi phạm quy định tại khoán 13 Điếu 12 của Luật Đấu thầu, cụ thể như sau: Cá nhân ký đơn dự thầu đối với các gói thầu thuộc dự án do cơ quan, tổ chức mà mình đã công tác trước đó trong thời hạn 1 năm, kể từ khi nhận được quyết định thôi công tác tại cơ quan, tổ chức đó; Quyết định trúng thầu đôi với nhà thầu mà người ký đơn dự thầu tham gia đấu thầu gói thầu thuộc dự án cúa cơ quan, tổ chức mà người đó vừa nhận được quyết định thôi công tác chưa được 1 nãm.
– Vi phạm quy định tại khoản 16 Điều 12 của Luật Đấu thầu, cụ thể như sau:
Phê duyệt hình thức lựa chọn nhà thầu trong kế hoạch đấu thầu không
phải là hình thức đấu thầu rộng rãi khi không bảo đảm đủ điều kiện theo quy định từ Điều 19 đến Điều 24 của Luật Đấu thầu và Điều 100, Điều 101 của Luật Xây dựng;
– Vi phạm quy định tại khoản 17 Điều 12 của Luật Đấu thầu, cụ thế như sau: Người quyết định đầu tư phê duyệt kế hoạch đấu thầu để cho phép tổ chức lựa chọn nhà thầu khi nguồn vốn để thực hiện gói thầu chưa được xác định; Người quyết định đầu tư phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu khi chưa có cam kết tín dụng trong trường hợp cho phép trong kế hoạch đấu thầu là nguồn vốn cho gói thầu do nhà thầu thu xếp.

b) Cấm tham gia hoạt động đấu thầu từ 1 nãm đến 3 năm đối với một trong các hành vi sau đây:
– Vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật Đấu thầu, cụ thể nhu sau: Cá nhân sử dụng quyền, ảnh hưởng của mình buộc chủ đầu tư, bên mời thầu, tổ chuyên gia đấu thầu, tư vấn đấu thầu, cơ quan, tổ chức thẩm định kết quá lựa chọn nhà thầu đề xuất nhà thầu trúng thầu không phù hợp với yêu cầu của hồ sơ mời thầu và tiêu chuấn đánh giá đã nêu trong hồ sơ mời thầu; Cá nhân trực tiếp đánh giá hồ sơ dự thầu, thấm định kết quả lựa chọn nhà thầu cố ý báo cáo sai hoặc không trung thực về các thông tin làm sai lệch kết quá lựa chọn nhà thầu, ký kết, thực hiện hợp đồng; Nhà thầu cố ý cung cấp các thông tin không trung thực trong hồ sơ dự thầu làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu, ký kết, thực hiện họp đồng.
– Vi phạm quy định tại khoản 14 Điều 12 của Luật Đấu thầu, cụ thể như
sau: Nhà thầu sử dụng tên, chữ ký, con dấu của mình nhằm hợp pháp hoá hổ sơ dự thầu của mình tham gia đấu thầu hình thức nhằm phục vụ cho một nhà thầu khác trúng thầu; Nhà thầu cho nhà thầu khác sử dụng tên, chữ ký, con đấu của mình; nhà thầu sử dụng tên, chữ ký, con dấu của nhà thầu khác để tạo thành một liên danh tham gia đấu thầu, sau khi trúng thầu thì không thực hiện theo vãn bản thoả thuận liên danh; trừ trường hợp họp đồng có quy định khác; Nhà thâu chuyến nhượng từ 10% trớ lên giá trị phái tự thực hiện (sau
khi trừ phần công việc thuộc trách nhiệm của nhà thầu phụ) nêu trong hợp
đồng đã ký cho nhà thầu khác, trừ trường hợp có lý do chính đáng được người quyết định đầu tư cho phép; Chủ đầu tư, tư vấn giám sát chấp thuận để nhà thầu chuyển nhượng công việc mà chưa được người quyết định đầu tư cho phép, trừ phần công việc thuộc trách nhiệm của nhà thầu phụ đã kê khai trong hợp đồng.
– Vi phạm quy định tại khoản 15 Điểu 12 của Luật Đấu thầu.

c) Cấm tham gia hoạt động đấu thầu từ 3 năm đến 5 nãm đối với một trong các hành vi sau đây:
– Vi phạm quy định tại khoản 1 Điểu 12 của Luật Đấu thầu;
– Vi phạm quy định tại khoản 3 Điểu 12 của Luật Đấu thầu;
– Vi phạm quy định tại khoản 12 Điều 12 của Luật Đấu thầu.

d) Tổ chức, cá nhân bị phạt cảnh cáo 5 lần liên tục sẽ bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu trong 6 tháng. Trường hợp tổ chức, cá nhân tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật vể đấu thầu cứ thêm 2 lần thì bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu tương ứng trong 1 năm, 2 năm, 3 năm.