Lập và phê duyệt kế hoạch đấu thầu

1.1. Lập kê hoạch đấu thầu
Điều 6 luật đấu thầu quy định:
kế hoạch đấu thầu phải được người có thẩm quyền phê duyệt bằng văn bản sau khi phê duyệt quyết định đầu tư hoặc phê duyệt đồng thời với quyết định đầu tư trong trường hợp đủ điều kiện để làm cơ sở pháp lý cho chủ đầu tư tổ chức lựa chọn nhà thầu, trừ gói thầu cần thực hiện trước khi có quyết định đầu tư. Người phê duyệt kế hoạch đấu thầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vể quyết định của mình.
Kế hoạch đấu thầu phải lập cho toàn bộ dự án; trường hợp chưa đủ điều kiện và thật cần thiết thì được phép lập kế hoạch đấu thầu cho một số gói thầu để thực hiện trước.
Trong kế hoạch đấu thầu phải nêu rõ số lượng gói thầu và nội dung của từng gói thầu. Nội dung của từng gói thầu bao gồm:
– Tên gói thầu;
– Giá gói thầu;
– Nguồn vốn;
– Hình thức lựa chọn nhà thầu; phương thức đấu thầu;
– Thời gian lựa chọn nhà thầu;
– Hình thức hợp đồng;
– Thời gian thực hiện hợp đồng.

1.2. Phê duyệt kê hoạch đấu thầu

1.2.1. Trách nhiệm và hồ sơ trình duyệt
Điều 11 Nghị định 58/2008/NĐ-CP quy định:

a) Trách nhiệm trình duyệt
Chú đầu tư có trách nhiệm trình kế hoạch đấu thầu lên người quyết định đầu tư hoặc người được uỷ quyển quyết định đầu tư xem xét, phê duyệt; đồng thời gửi cho cơ quan, tổ chức thẩm định; trường hợp trình kế hoạch đấu thầu lên Thú tướng Chính phủ, chủ đầu tư còn phải gửi cho bộ quản lý ngành đẻ có ý kiên bằng vãn bán trình Thủ tướng Chính phú xem xét, phê duyệt.
Đối với các gói thầu dịch vụ tư vấn được thực hiện trước khi có quyết định đầu tư thì chú đẩu tư, đơn vị được giao nhiệm vụ chuấn bị dự án có trách nhiệm trình kế hoạch đấu thầu lên người đứng đầu cơ quan mình (người giao nhiệm vụ) để xem xét, phê duyệt. Trong trường hợp này, người đứng đầu cơ quan liên quan chịu trách nhiệm chỉ định một đơn vị trực thuộc tổ chức thấm định kế hoạch đấu thầu trước khi phê duyệt.

b) Hồ sơ trình duyệt
* Văn bán trình duyệt kế hoạch đấu thầu bao gồm những nội dung sau đây:
– Phần công việc đã thực hiện bao gồm những công việc liên quan tới chuấn bị dự án với giá trị tương ứng và cãn cứ pháp lý để thực hiện;
– Phần công việc không áp dụng được một trong các hình thức lựa chọn nhà thầu quy định từ Điều 18 đến Điểu 24 của Luật Đấu thầu và Điều 97 của luật xây dựng;
– Phần kế hoạch đấu thầu bao gồm những công việc hình thành các gói thầu được thực hiện theo một trong các hình thức lựa chọn nhà thầu quy đinh từ Điều 18 đến Điều 24 của Luật Đấu thầu và Điều 97 của Luật Xây dựng, kế cả các công việc như rà phá bom mìn, xây dựng khu tái định cư, báo hiếm công trình, đào tạo; cơ sở của việc chia dự án thành các gói thầu. Đối với từng gói thầu, phải bảo đảm có đủ các nội dung quy định tại Điều 10 Nghị định này. Trường hợp không áp dụng đấu thầu rộng rãi thì phải nêu rõ lý do.
Tống giá trị các phần công việc đã thực hiện, phẩn công việc không áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu và phần công việc thuộc kế hoạch đấu thầu không được vượt tống mức đầu tư cúa dự án.
Trường hợp cần thiết phải lập kế hoạch đấu thầu cho một hoặc một số gói thầu để thực hiện trước theo quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật Đấu thầu thì trong vãn bản trình duyệt vẫn phải bao gồm các nội dung như quy định tại khoán này.

* Tài liệu kèm theo văn bản trình duyệt: Khi trình duyệt kế hoạch đấu thầu, chú đầu tư phải gửi kèm theo bản chụp các tài liệu làm căn cứ lập kế hoạch đấu thầu theo quy định tại Điều 9 Nghị định này.

1.2.2. Thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu
Điều 12 Nghị định 58/2008/NĐ-CP quy định:

a) Thẩm định kế hoạnh đấu thầu
– Thấm định kế hoạch đấu thầu là việc tiến hành kiểm tra, đánh giá các nội dung theo quy định tại Điều 9, Điều 10 và Điều 11 Nghị định này.
– Cơ quan, tổ chức thẩm định kế hoạch đấu thầu- phải lập báo cáo kết quả thấm định trên cơ sở tuân thủ quy định tại Điểu 65 của Luật Đấu thầu trình người quyết định đầu tư phê duyệt.

b) Phê duyệt kế hoạch đấu thầu
Người quyết định đầu tư hoặc được uỷ quyền quyết định đầu tư hoặc người đứng đầu cơ quan chuẩn bị dự án có trách nhiệm phê duyệt kế hoạch đấu thầu trong thời hạn không quá 10 ngày, kê từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan, tổ chức thẩm định. Việc phê duyệt kế hoạch đấu thầu thuộc trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ được thực hiện theo Quy chế làm việc của Chính phủ.