Một số phương pháp phân tích, đánh giá rủi ro của dự án – P2

1. Phương pháp phán tích độ nhạy
Độ nhậy của dự án là mức độ biến đổi của các chỉ tiêu hiẹu quả như lợi nhuận, hiện giá của hiệu số thu chi NPV, hay suất thu lợi nội tại IRR v.v… khi ta thay đổi các chỉ tiêu tính toán có mặt trong dòng tiền tệ.
Độ nhậy của dự án có thế khảo sát theo sự thay đổi từng chỉ tiêu (ví dụ vốn đầu tư, doanh thu v.v…) riêng rẽ, hay của hầu hết các chỉ tiêu đồng thời.
Độ nhậy thường được xem xét theo các tình huống tốt, xấu nhất và binh thường dể xem xét và quyết định cuối cùng.
Có một số phương pháp phân tích độ nhậy của dự án, như sau:

a) Phân tích độ nhậy theo phía bất lợi
Trong trường hợp này ta cho các chỉ tiêu tính toán thay đổi về phía bất lợi một số phần trăm nào đó (thường khoảng 15 – 20%), nếu phương án được xét theo một chỉ tiêu hiệu quả nào đó vẫn tỏ ra là đáng giá thì nó được coi là an toàn. Trong trường hợp này độ nhậy biến đổi các chỉ tiêu hiệu quả về phía xàu hơn càng bé là càng tốt.

b) Phân tích độ nhạy áp dụng lý thuyết xác suất
Phân tích độ nhạy theo phương pháp áp dụng lý thuyết xác suất gồm:
– Xác định các tình huống có thể xảy ra;
– Dự kiến xác suất xảy ra của các tình huống;
– Xác định giá trị kỳ vọng toán học (E):

i = 1 -r n với n là số tình huống có thể xảy ra;
R, – trị số chỉ tiêu hiệu quả đang tính toán ở tình huống i;
Pị – xác suất xảy ra tình huống i;
ơ – độ lệch tiêu chuẩn;
R – giá trị trung bình của các Rj.
Phương pháp này thường dùng trong trường hợp đánh giá một dự án đầu tư với nhiều yếu tố tác động đồng thời có thể biến đổi làm thay đổi kết quả của dự án. Phương pháp này sẽ cho một miền giá trị, trong đó các kết quả biến thiên như là một hàm về xác suất xảy ra trong đó có một kết quả mong đợi nhất.

Nhược điểm cua phương pháp này là xác suất xảy ra được xác định theo các suy đoán chú quan của người phân tích và cách tính toán phức tạp.

a) Phân tích ảnh hưởng của các chỉ tiêu đến hiệu quả của phương án
Phân tích ảnh hưởng của các chỉ tiêu riêng rẽ: Các chỉ tiêu ảnh hưởng đến hiêu quả của dư án có khá nhiều, nhưng trong đó các chỉ tiêu về vốn đầu tư, lợi nhuận thu được hàng năm, doanh thu, chi phí vận hành, thời gian tồn tại dự án thường có vai trò quan trọng nhất.
Trong trường hợp này ta cho từng chỉ tiêu tính toán tăng (giảm) một số phần trăm nào đó (thường khoảng 20 – 40%) rồi tính xem mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu đến hiệu quả của phương án.

Phân tích ảnh hưởng của nhiều chỉ tiêu đồng thời: Trong trường hợp này ta phân tích ảnh hưởng của nhiều chỉ tiêu đồng thời cho tình huống tốt nhất, xấu nhất và bình thường. Trên cơ sở đó sẽ xem xét lựa chọn phương án. Ớ đây có thể xẩy ra các trường hợp:
– Khi tính toán cho trường hợp xấu nhất, phương án vẫn đáng giá, trường họp này phương án là chấp nhận được.
– Khi tính cho trường hợp tốt nhất, phương án vãn không đáng giá, trường hợp này phương án phải bị loại bỏ.
– Khi tính toán cho trường hợp tốt nhất, phương án tỏ ra đáng giá, nhưng khi tính toán cho trường hợp xấu nhất phương án lại không đáng giá, trường hợp này dự án cần được nghiên cứu thêm.
Việc xem xét ánh hướng cứa các chí tiêu riêng rẽ đến hiệu quá cúa dự án giúp ta có biện pháp bảo đảm độ chính xác của các chỉ tiêu này ở cả giai đoạn lập dự án ban đầu và cả ở giai đoạn vận hành dự án sau này.

Phương pháp phân tích độ nhạy được sử dụng nhiều trong việc phân tích rủi ro khi lựa chọn phương án, đánh giá các dự án đầu tư trong xây dipig. Phương pháp này cố ưu điểm là lường trước được các yếu tố rủi ro tác động lùm biến dổi chỉ tiêu lợi nhuận của dự án để từ dó các nhà đầu tư có biện pháp chuẩn bị đối phó nhầm giảm thiểu rủi ro và tăng lợi nhuận của phương án. Tuy nhiên phương pháp này cố nhược điểm là việc tính toán phức tạp, các dự kiến thay đổi chỉ tiêu hiệu quả phụ thuộc vào suy đoán chủ quan của con người, trong khi các tác động gây ra rủi ro hoàn toàn ngẫu nhiên nằm ngoài dự đoán của con người.

2. Phương pháp phán tích an toàn tài chính của dự án đầu tư
Phương pháp phân tích an toàn tài chính của dự án đầu tư thường có ba nội dung:
– An toàn về nguồn vốn;
– Khả năng trả nợ;
– Thời hạn hoàn vốn.

a) An toàn về nguồn vốn
Để đảm bảo an toàn về nguồn vốn cần phân tích các mặt sau:
– Các nguồn vốn có thể huy động, khả năng tối đa và tối thiểu có thể huy động được vốn, lịch trình cấp vốn;
– Tính đảm bảo về mặt pháp lý các nguồn vốn của dự án, uy tín của các cơ quan đảm bảo cho việc vay vốn;
– Các điều kiện cho vay vốn, hình thức nhận vốn và thanh toán nợ, lãi suất, hình thức ngoại tệ, tỷ suất hối đoái;
– Độ hấp dẫn của các dự án với các tổ chức cho vay vốn hay đóng góp cổ phần;
– Vốn pháp định, vốn tự có, vốn vay và giá trị tài sản tài sản lưu động có và nợ.

b) Khả năng trả nợ
Nguồn trả nợ của dự án là quỹ khấu hao đã tích luỹ được và một phần lợi nhuận. Để xác định khả năng trả nợ cần tính toán các chỉ tiêu: trả nợ hàng năm, thời gian trả nợ và điểm hoà vốn trả nợ.
– Mức trả nợ hàng nãm:
Mức trả nợ hàng năm được xác định theo công thức (3-17) trong mục 3.5 trẽn đây.
Nếu vay vốn đế xây dựng công trình, sau đó phải trả nợ kể từ khi công trình đưa vào sử dụng, trị số p sẽ được tính như sau:

Trong đó: V, – nợ gốc ở thời điểm đi vay i;
t – thời gian kể từ khi vay vốn đến thời điểm trả nợ; r – lãi suất vay vốn;
T – thời gian xây dựng công trình.
– Thời gian trả nợ:
Trong trường hợp khi đưa dự án vào sử dụng, thời gian đạt công suất thiết kế là T() thì tổng số vốn và lãi phải trả tính từ nãm đầu xây dựng đến năm đạt 100% công suất thiết kế sẽ là V0, được tính như sau:

c) Thời hạn hoàn vốn
Thời hạn hoàn vốn là khoảng thời gian cần thiết (tính theo năm) để cho tống các thu nhập ròng của dự án đủ bù đắp các chi phí đầu tư ban đầu. Nói cách khác, thời hạn hoàn vốn là số năm trong đó dự án sẽ tích luỹ các khoản tiền mặt đủ để bù đắp tổng số vốn bỏ ra.

Trong đó: V – tổng vốn đầu tư của dự án;
Bt – thu nhập của dự án;
Ct – chi phí khai thác của dự án.
Phương pháp phân tích an toàn tài chính giúp các nhà phân tích xác định khả năng hoàn vốn (thông qua chỉ tiêu thời hạn hoàn vốn và khả năng trả nợ) của dự án. Phương pháp này dược áp dụng khi phân tích đánh giá hiệu quá tài chính của các dự án, đặc biệt là dự án dầu tư xây dựng.