Một số phương pháp phân tích kinh tế- xã hội – P2

2.1. Phương pháp 1: Phân tích lợi ích kinh tế
Phương pháp này chỉ dựa trên sự phân tích các kết quả tính toán của dự án đầu tư theo quan điểm vĩ mô, không áp dụng phương pháp giá trị tương đương theo thời gian và chưa phân phối thu nhập cho các đối tượng được hường lợi cụ thể. Một số chỉ tiêu cụ thể:

a) Chỉ tiêu giá trị gia tăng mới được sáng tạo của sản phẩm hàng hoá, đóng góp vào thu nhập quốc dân của dự án.
– Tính giá trị sản lượng hàng hoá gia tăng đạt được trong một năm của dự án (ký hiệu là Ln).
Ln = D-(C,+ C2) + Lg (3-21)
Trong đó:
D – doanh thu của năm đang xét;
C| – chi phí khấu hao của năm;
c2 – chi phí sản phẩm vật chất cho nguyên vật liệu, năng lượng hàng năm. Nếu dự án phải nộp thuế như thuế cơ sở hạ tầng, thuế tài nguyên và được trợ giá hay bù giá, thì các khoản này cũng được cộng vào chỉ tiêu C2, tính hàng năm;
Lg – giá trị sản phẩm gia tăng thu được gián tiếp ở các lĩnh vực có liên quan, nếu có và nếu có thể tính được. Việc tính toán này thường khó vì trị số Lg thu được ớ các ngành nhiều khi còn do nhiều nhân tố khác tạo nên. Một cách gần đúng, có thể xác định trị số Lg của các ngành khác nhau như sau:

Một số phương pháp phân tích kinh tế- xã hội - P2 1

Trong đó:
Lgc – giá trị gia tàng của ngành có liên quan khi có dự án đầu tư đang xét tính cho một nãm;
Lg0 – giá trị gia tăng của ngành có liên quan khi không có dự án tính cho một năm.
Việc tính toán Lg phải dựa trên giả định là mọi nhân tố sản xuất của ngành có liên quan giữ nguyên, chỉ có nhàn tố mới là có dự án xuất hiện mới và tạo nên sự thay đổi của Lg0.
– Tính giá trị gia tăng cho cả đời dự án (ký hiệu là Lđ), ta có:

 

Một số phương pháp phân tích kinh tế- xã hội - P2 1

– Tính giá trị gia tăng cho cả đời dự án (ký hiệu là Lđ), ta có:
Trong đó: Lm – giá trị gia tăng của nãm t;
n – thời kỳ tồn tại của dự án.
– Khi trị số của Lm không đều nhau ta có giá trị gia tăng trung bình nãm (ký hiệu là Ltb),

Một số phương pháp phân tích kinh tế- xã hội - P2 1

tính theo công thức:
– Nếu so sánh giữa phương án có dự án và phương án không có dự án thì mức gia tăng của giá trị gia tăng ở một nãm nào đó (ký hiệu là ALm) sẽ bằng:
ALm = Lcnt — Lont (3-25)
Trong đó:
Lcnt – giá trị gia tăng khi có dự án ở năm t;
Lont – giá trị gia tăng của phương án giữ nguyên hiện trạng ở nãm t.
– Nếu dự án có liên doanh với người nước ngoài, ta có:
Ln = D-(C,+ C2)-Cng+Lg (3-26)
Trong đó: Cng – các khoản trả chuyển ra nước ngoài hàng nãm như tiền trả kỳ vụ, bảo hiếm, lãi vay nước ngoài, lợi nhuận chia cho người nước ngoài, lương trả cho người nước ngoài.
– Nếu tính đến vốn bỏ ra để đạt được giá trị gia tăng còn phải tính đến các chỉ tiêu sau: 

Một số phương pháp phân tích kinh tế- xã hội - P2 1

Trong đó:
Hv – hiệu quả của giá trị gia tãng tính cho một đồng vốn đầu tư;
Hg – hiệu quả của giá trị gia tăng tính cho một đồng giá trị sản lượng;
V – vốn đầu tư của dự án;
G – giá trị sản phẩm trung bình năm của dự án.
b) Chỉ tiêu mức đóng góp cho ngân sách Nhà nước.
– Mức đóng góp cho ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thuế (như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, các khoản thuế tài sản của Nhà nước như thuế đất, thuế tài nguyên, thuế cơ sở hạ tầng, (tính bằng tiền).
– Mức đóng góp cho ngân sách nhà nước tính theo số tương đối (ký hiệu là Kđ);

Một số phương pháp phân tích kinh tế- xã hội - P2 1

c) Chỉ tiêu thực thu ngoại hối
– Chỉ tiêu thực thu ngoại hối của dự án ở năm t nào đó (ký hiệu NH,):
NH t = Tnt – cm – Lnt (3-31)
Trong đó:
Tm – tổng thu ngoại hối ở năm t của dự án do xuất khẩu;
Cnt – tổng chi ngoại hối ở năm t do phải mua hàng hoá và dịch vụ ở nước ngoài, trả lãi vốn vay nước ngoài v.v..;
Lnt – lợi nhuận được chia cho người nước ngoài, (trường hợp dự án liên doanh với người nước ngoài) và được đưa ra nước ngoài bằng ngoại tệ.
– Thực thu ngoại tệ tính cho cả đời dự án:

Một số phương pháp phân tích kinh tế- xã hội - P2 1

d) Chỉ tiêu khả năng cạnh tranh quốc tế của sản phẩm, (ký hiệu là Kcq):
Trong đó:
FVl – chi phí cho yếu tố đầu vào ở trong nước ở năm t cho sản xuất xuất khẩu hay thay thế nhập khẩu của dự án;
Kcq >1 thì sản phẩm của dự án mới có khả năng cạnh tranh quốc tế.
e) Tăng cường khả năng xuất khẩu
Chỉ tiêu thực thu ngoại hối đã phản ánh khả năng tăng cường xuất khẩu. Ngoài ra còn có thể tính toán thêm một số chỉ tiêu như sau:
– Mức khan hiếm sản phẩm của dự án trên thị trường quốc tế;
– Gia tăng tổng giá trị sản phẩm hàng hoá xuất khẩu của đất nước;
– Tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy xuất khẩu cho các ngành khác.
g) Tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế khác
Tác động này thể hiện ở các mặt:
– Dự án có thể làm xuất hiện những ngành sản xuất mới, cung cấp đầu vào cho dự án và các ngành sản xuất mới sử dụng đầu ra của dự án;
– Dự án góp phần cải thiện các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất – kinh doanh của các ngành có liên quan hiện có thông qua các chỉ tiêu như: gia tăng khối lượng sản phẩm, tăng thêm lợi nhuận và mức đóng góp cho Nhà nước, tận dụng công suất dư thừa hiện có.
h) Góp phần phát triển kinh tế của địa phương nơi thực hiện dự án
Sự ủng hộ của địa phương đối với dự án là hết sức quan trọng, do đó cần chú ý phân tích hiệu quả kinh tế của dự án đóng góp cho địa phương về các mặt như:
– Làm xuất hiện các ngành nghề mới ở địa phương;
– Góp phần phát triển các doanh nghiệp hiện có ở địa phương;
– Tăng cường cơ sở hạ tầng kinh tế cho địa phương.
i) Các chỉ tiêu lợi ích kinh tế khác
Ngoài một sô chỉ tiêu hiệu quả kinh tế kể trên, khi phân tích dự án còn phải chú ý đến một số mặt rất quan trọng của dự án như sau:
– Sự phù hợp của dự án với đường lối phát triển kinh tế – xã hội của đất nước;
– Góp phần cải thiện cơ cấu kinh tế của đất nước, tăng cường tính cân đối của nền kinh tế, tạo điều kiện tăng nhanh nhịp điệu phát triển kinh tế;
– Sự phù hợp của dự án đối với lợi ích chung, lợi ích chiến lược, lợi ích lâu dài, lợi ích đón đầu của nền kinh tế, tính chất và vai trò đòn bảy của dự án đối với nền kinh tế;
– Chất lượng sản phẩm của dự án và tác động của nó đến các lĩnh vực khác;
– Tác động của dự án góp phần tăng cường tính tự chủ, độc lập của nền kinh tế và vai trò của đất nước trên trường quốc tế.
Khi so sánh các phương án theo chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, kết hợp với một vài chỉ tiêu kinh tế bổ sung thì ở đây thường chọn chỉ tiêu giá trị sản phẩm hàng hoá gia tãng là chỉ tiêu chính và tổng hợp, vì chỉ tiêu đó phản ánh các chỉ tiêu khác ở bên trong và chỉ rõ hiệu quả kinh tế chủ yếu của nền kinh tế. Các chỉ tiêu khác cũng được xem xét nhưng đóng vai trò bổ sung.
Khi áp dụng phương pháp dùng trị số tổng hợp không đơn vị đo để xếp hạng phương án, ở đây tất cả các chỉ tiêu đều được tính gộp vào một chỉ tiêu duy nhất để phân tích.