Phân tích và đánh giá các chỉ tiêu kinh tế – xã hội của dự án đầu tư

1. Những vấn đề chung

1.1. Sự cần thiết của phàn tích kinh tế- xã hội
Phân tích tài chính xem xét dự án đầu tư theo giác độ lợi ích trực tiếp của chủ đầu tư.
Ngược lại, phân tích kinh tế – xã hội đánh giá dự án xuất phát từ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và toàn bộ xã hội. Phân tích kinh tế – xã hội rất cần thiết vì:
Trong nền kinh tế thị trường, tuy chủ trương đầu tư phần lớn là do các doanh nghiệp tự quyết định xuất phát từ lợi ích trực tiếp của doanh nghiệp, nhưng nó không được trái với pháp luật và phải phù hợp với đường lối phát triển kinh tế – xã hội chung của toàn đất nước, trong đó lợi ích của Nhà nước và doanh nghiệp được kết hợp chặt chẽ. Những yêu cầu này phải được thể hiện thông qua phần phân tích kinh tế – xã hội.
Phân tích kinh tế – xã hội đối với nhà đầu tư đó là căn cứ chủ yếu để thuyết phục Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dự án, các ngân hàng cho vay vốn và nhân dân địa phương nơi đặt dự án ủng hộ chủ đầu tư thực hiện dự án.
Đối với các tổ chức viện trợ dự án, phân tích kinh tế là căn cứ quan trọng đế họ chấp thuận viện trợ, nhất là đối với các tổ chức viện trợ nhân đạo, viện trợ cho các mục đích xã hội và bảo vệ môi trường.
Đối với dự án phục vụ lợi ích công cộng do Nhà nước trực tiếp bỏ vốn thì phân tích kinh tế – xã hội có vai trò chủ yếu trong phân tích dự án, vì hiện nay ớ nước ta loại dự án này khá phổ biến và chiếm nguồn vốn khá lớn.

1.2. Khái niệm về chi phí, lợi ích và hiệu quả kinh tế- xã hội

1.2.1. Chi phí kinh tế – xã hội
Chi phí kinh tế – xã hội là những khoản chi tiêu hay tổn thất mà Nhà nước và xã hội phát phải gánh chịu khi thực hiện dự án. Những khoản chi phí này thường là:
Tài nguyên thiên nhiên của đất nước phải dành cho dự án, mà loại tài nguyên này hoàn toàn có thể sử dụng vào việc khác trong một tương lai gần để sinh lợi (có thể hiểu đây là một loại chi phí thời cơ). Để bồi hoàn lại chi phí này các doanh nghiệp phải nộp thuế tài nguyên.
Các cơ sở hạ tầng kinh tế và văn hoá xã hội mà Nhà nước phải bỏ vốn từ ngân sách nhà nước để xây dựng, mà các cơ sở hạ tầng này trực tiếp hay gián tiếp phục vụ cho dự án (ví dụ công trình giao thông vận tải, điện, nước, các công trình văn hoá phục vụ công nhân, v.v…). Để bồi hoàn lại chi phí này các doanh nghiệp thường phải nộp thuế sử dụng cơ sở hạ tầng.
Lực lượng lao động nghề nghiệp mà Nhà nước đã phải bao cấp trong đào tạo, các lực lượng này được dự án sử dụng. Đế bồi hoàn chi phí này đúng ra các doanh nghiệp còn phải nộp thuế cho đào tạo nhân lực.
Chi phí quản lý chung của Nhà nước để tạo điều kiện thuận ỉợi cho sản xuất kinh doanh.
Các tổn thất về kinh tế – xã hội và môi trường mà Nhà nước và nhân dân (nhất là nhân dân địa phương nơi xây dựng cống trình của dự án) phải gánh chịu khi thực hiện dự án đang xét.
Có các chi phí và tổn thất kinh tế – xã hội không thế tính toán thành số lượng chính xác được.

1.2.2. Lợi ích và hiệu quả kinh tế – xã hội
Lợi ích kinh tế – xã hội là loại lợi ích về kinh tế xã hội được xét theo góc độ vĩ mô của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và toàn bộ xã hội.
Lợi ích kinh tế-xã hội của một dự án thường đã được trừ đi các chi phí kinh tế xã hội đã tạo nên nó và do đó nó đồng nghĩa với hiệu quả kinh tế – xã hội (tính theo số tuyệt đối). Mặt khác hiệu quả này còn được tính theo số tương đối bằng cách chia nó cho chi phí kinh tế – xã hội đã sinh ra nó.
Hiện nay, theo cách tính toán lợi ích kinh tế – xã hội cần phân biệt lợi ích kinh tế – xã hội có bao gồm và không bao gồm lợi ích của doanh nghiệp trong số trường hợp. Ví dụ chỉ tiêu kinh tế – xã hội theo chỉ tiêu giá trị sản phẩm hàng hoá gia tãng, trong đó bao gồm cả lợi nhuận để lại cho doanh nghiệp và tiền nộp thuế cho Nhà nước được trích từ lợi nhuận trước thuế, là chỉ tiêu lợi ích kinh tế – xã hội có bao gồm lợi ích của doanh nghiệp với tư cách là một thành viên của xã hội; lẽ dĩ nhiên trong khoản thuế trên không được tính các thứ thuế mà Nhà nước phải dùng để bồi hoàn chi phí của Nhà nước đã phải bỏ ra trước đó (ví dụ thuế cơ sở hạ tầng do Nhà nước xây dựng). Trái lại chỉ tiêu giá trị sản phẩm gia tăng, nếu không bao hàm khoản lợi nhuận để lại cho doanh nghiệp, sẽ là chỉ tiêu lợi ích kinh tế – xã hội không bao gồm lợi ích của doanh nghiệp.

Có những lợi ích kinh tế – xã hội-có thể định lượng được như giá trị sản phẩm gia tăng, mức đóng góp cho Nhà nước, mức giảm độc hại cho môi trường, V.V.. nhưng cũng có lợi ích kinh tế – xã hội khó tính toán thành số lượng được, ví dụ lợi ích của đầu tư cho văn hoá, giáo dục và sức khoẻ.
Lợi ích kinh tế – xã hội phức tạp hơn lợi ích tài chính không những về chúng loại lợi ích mà còn về tính thay đổi của lợi ích theo thời gian và theo từng quốc gia. Ví dụ ở một giai đoạn nào đó lợi ích kinh tế – xã hội của một quốc gia nào đó đòi hỏi phải coi việc giải quyết nạn thất nghiệp là chính, nhưng ở một giai đoạn khác lại đòi hỏi phải giải quyết nạn khan hiếm lao động là chính. Một quốc gia này đòi hỏi các dự án đầu tư phải tiết kiệm tài nguyên là chính, một quốc gia khác lại đòi hỏi phải tiết kiệm lao động là chính, v.v…