Phương pháp xác định độ dài thời gian xây dựng công trình bằng cách tính toán dây chuyền thi công

Độ dài thời gian xây dựng công trình (TXDCr) thường được xác định theo những phương pháp sau:
– Phương pháp dựa vào tổng tiến độ thi công do thiết kế lập và được phê duyệt;
– Phương pháp dựa vào tiến độ thi công lập theo sơ đồ mạng. Sau khi xác định được đường găng, người ta chuyển sơ đồ mạng sang sơ đồ ngang theo đường đắng thời. Độ dài (tính theo ngày) của đường găng chính là độ dài thời gian xây dựng công trình (TXDCr);
– Phương pháp xác định độ dài thời gian xây dựng công trình dựa vào phương pháp lập tiến độ thi công theo phần mềm Microsof Project bằng cách: từ cửa số Timescale chọn Minor scale, trong Units chọn “days”, Count chọn “1”, trong Label chọn 1, 2, 3, 4,…(From Start) hoặc chọn 4, 3, 2, 1,… (From End) chúng ta sẽ được ngay độ dài thời gian xây dựng công trình. Lưu ý rằng độ dài thời gian xây dựng này đạt độ chính xác lớn hay nhỏ phụ thuộc vào người lập tiến độ thi công, đổng thời khi lập tiến độ thi công đã/hay chưa kể tới thời gian nghỉ theo chế độ (thứ 7, chú nhật, ngày lễ, ngày tết…).
– Tại một số nước phát triển có nền tài chính ổn định (tăng trướng bền vững, lạm phát kích thích phát triến chỉ từ 1 -ỉ- 3%/năm) thì mỗi gói công việc (Package Work) có giá chuẩn. Do đó thời gian thực hiện các gói công việc i (nêu gọi là tXDi) thì tống các tXDi chính là TXDCr.

Tính toán tham sô của dãy chuyền bộ phận
a) Tính lượng lao động cẩn thiết thực hiện quá trình i
Gọi Q, là khối lượng công tác của quá trình i, Ds là định mức sản lượng thực tế của mỗi công nhân và Dị là định mức thời gian, thì lượng lao động cần thiết tiêu hao để thực hiện quá trình i (kí hiệu là Vj) được tính theo công thức (3-66). Đơn vị đo của Vị là ngày công.

b) Tính nhịp của dây chuyền
Nếu gọi Qxt là khối lượng công tác tại phân đoạn X của dây chuyền i và Kx, là thời hạn thực hiện phân đoạn X của dây chuyền i, K^I cũng chính là nhịp của dây chuyền i tại phân đoạn X thì số công nhân tham gia để thực hiên phân đoan X sẽ là:
Mặt khác nếu gọi s„ là diện công tác tối thiểu của một công nhân và s là diện công tác chung của toàn thể công nhân thì ta cũng có:

Từ hai công thức trên đây ta có thể rút ra công thức tính nhịp dây chuyền tại phân đoạn X như sau:

Trong trường họp cơ cấu công nhân là cố định và diện công tác cho phép toàn tổ hoạt động bình thường thì ta có thể tính nhịp của dây chuyền theo công thức:

Trong đó: NCN là số công nhân của tổ tham gia thực hiện dây chuyền i.

c) Tính thời hạn thực hiện dãy chuyên bộ phận
– Trường hợp nhịp của dây chuyền bộ phận là không đổi, tức là thời hạn thực hiện tất cả các phân đoạn của dây chuyền có cùng một trị số như nhau thì thời hạn thực hiện dây chuyền i kí hiệu là t được tính theo công thức:
t = m X k
Trong đó: m là số phân đoạn của dây chuyền i đang xét.
– Nếu nhịp của dây chuyền thay đổi, không thống nhất với nhau ở các phân đoạn, thì thời hạn t tính theo công thức:

 Tính toán các loại dây chuyên tổng hợp
Dây chuyền tổng họp là tổ hợp của các dây chuyền bộ phận có quan hệ với nhau về công nghệ và tổ chức nhằm thực hiện một quá trình sản xuất nào đó. Trong tính toán loại dây chuyển này, ta có thể chia thành 3 trường hợp sau:
– Dây chuyền đắng nhịp và đồng nhất;
– Dây chuyền đẳng nhịp và không đồng nhất;
– Dây chuyển có nhịp thay đổi.
Sau đây giới thiệu cách tính toán cho từng trường hợp:

Dây chuyên đẳng nhịp và đổng nhất

Dây chuyền đắng nhịp và đồng nhất là loại dây chuyền có nhịp không đối và thống nhất ớ tất cả các dây chuyền bộ phận tạo thành dây chuyền tống hợp.
Nếu gọi n là số dây chuyền bộ phận (tưorng ứng với số các quá trình sản xuất khác nhau) và Tị là thời hạn thực hiện toàn bộ các công việc ở giai đoạn 1 (hay còn gọi là chu kì sản xuất của dây chuyền tổng hợp), m là số phân đoạn của dây chuyển, K là nhịp của dây chuyền, các thời hạn thực hiện dây chuyền loại này như sau:
– Trường hợp không có gián đoạn kĩ thuật, nghĩa là tCN = 0 thì thời hạn thực hiện dây chuyền tính theo công thức:

Dây chuyên đẳng nhịp không đồng nhất

Dây chuyển đẳng nhịp không đồng nhất là loại dây chuyền có nhịp không đổi nếu xét trong phạm vi một dây chuyền bộ phận bất kì, còn nhịp của dây chuyển bộ phận khác nhau thì không bằng nhau.
Người ta có thể chia dây chuyền loại này ra hai trường hợp: dây chuyền đắng nhịp không bội và dây chuyền đắng nhịp bội.
Dây chuyền đẳng nhịp bội là loại dây trong đó: tồn tại một dây chuyển bộ phận có nhịp là ước số chung của nhịp các dây chuyền bộ phận còn lại.
Việc xác định thời hạn thi công của dây chuyển loại này có thể tiến hành bằng hai phương pháp chính: phương pháp vẽ theo mối liên hệ đầu cuối của dây chuyền bộ phận và phương pháp tính theo công thức.

a) Xác định thời hạn thực hiện dây chuyền bằng phương pháp vẽ theo mối liên hệ đầu và mối liên hệ cuối của dây chuyền bộ phận:
Để thiết kế tiến độ thi công theo phương pháp dây chuyển trước hết phải tìm được điểm bắt đầu của dây chuyền bộ phận kể từ dây chuyền bộ phận thứ hai trở đi để sao cho các tổ tham gia thực hiện các dây chuyền đó có thể làm việc liên tục từ lúc vào cho đến lúc ra và cũng không cho phép ở cùng một thời điểm tồn tại hai tổ khác loại thực hiện nhiệm vụ của mình trên cùng một phân đoạn.
Trên cơ sở những quy định trên đây, ta rút ra quy tắc vể dây chuyền đẳng nhịp không đồng nhất như sau:
– Sứ dụng mối liên hệ đầu: Khi nhịp công tác của dây chuyền tiếp sau lớn hơn nhịp công tác của dây chuyền ngay kế trước nó thì dùng mối liên hệ lúc bắt đầu để xác định thời điểm bắt đầu của dày chuyển có nhịp lớn đi tiếp
sau đó;
– Sứ dụng mối liên hệ cuối: Khi nhịp công tác cúa dây chuyền tiếp sau nhó hơn nhịp công tác của dây chuyền ngay kế trước nó thì ta dùng mối liên hệ lúc kết thúc để vẽ dây chuyền có nhịp bé tiếp sau đó.
Vẽ tiến độ theo phương pháp này đơn giản, không cần có trình độ cao cũng có thể vẽ đúng tiến độ tham gia cua các tổ đội.

b) Dùng công thức để tính thời hạn thực hiẹn dáy chuyền. Thiết lập cóng thức tính để nhanh chóng tính ra thời hạn thi công dây chuyền mà không cần vê hmh.
VỚI diều kiện lấy các giá trị (K, – Kl+I) > 0.

Nếu xét cả đến gián đoạn kĩ thuật thì công thức tổng quát sẽ là:

Khi tính thời hạn T theo công thức (3-73a, b) trên đây, ta chỉ lấy các giá
trị (K, – K,+1) > 0.
Thí dụ 3.1:
Một đối tượng thi công được chia thành 6 phân đoạn (m = 6). Để thực hiện đối tượng này cần tiến hành 4 quá trình thi công khác nhau (n = 4). Thời hạn thực hiện các phân đoạn của từng quá trình đo bằng ca làm việc cho trong bảng 3.1. Sau khi thực hiện quá trình thứ 2 phải chờ đợi kĩ thuật 2 ngày (nghĩa là tCN = 2). Hãy tính thời hạn thi công dây chuyền và vẽ tiến độ theo các số liệu đã tính.
Bảng 3.1