Quyết toán vốn đầu tư

1. Các yêu cầu cơ bản
Việc quyết toán vốn đầu tư hàng năm và quyết toán vốn đầu tư hoàn thành thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính về chế độ quyết toán vốn đầu tư.
Trường hợp quyết toán đã được duyệt, nếu số vốn được quyết toán thấp hơn số vốn đã thanh toán cho dự án, chú đầu tư có trách nhiệm thu hồi lại của nhà thầu đê hoàn trả cho Nhà nước số vốn thanh toán thừa; nếu số vốn được quyết toán cao hơn số vốn đã thanh toán, chủ đầu tư có trách nhiệm thanh toán tiếp hoặc bố trí vốn vào kế hoạch năm sau để thanh toán cho nhà thầu.

1.1. Điêu 32 Nghị định số 99/2007/NĐ-CP (13/6/2007) – ký hiệu là [8]. Quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình

a) Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện cho đầu tư xây dựng công trình và đưa công trình vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp pháp là chi phí được thực hiện trong phạm vi thiết kế, dự toán đã được phê duyệt kể cả phần điều chỉnh, bổ sung hoặc là chi phí được thực hiện đúng với hợp đồng đã ký kết, phù hợp với các quy định cua pháp luật. Đối với các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì vốn đầu tư được quyết toán phải nằm trong giới hạn tổng mức đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Tuỳ theo quy mô, tính chất và thời hạn xây dựng công trình, chủ đầu tư có thể thực hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng từng hạng mục công trình hoặc toàn bộ công trinh ngay sau khi hạng mục công trĩnh, công trình hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng theo yêu cầu của người quyết định đầu tư.

b) Chù đầu tư có trách nhiệm lập hồ sơ quyết toán vốn đầu tư công trình, hạng mục công trình hoàn thành để trình người quyết định đầu tư phê duyệt chậm nhất là 12 tháng đối với các dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A, 9 tháng đối với dự án nhóm B và 6 tháng đối với dự án nhóm c kể từ khi công trình hoàn thành, đưa vào khai thác sử dụng. Sau 6 tháng kể từ khi có quyết định phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành, chủ đầu tư có trách nhiệm giái quyết công nợ, tất toán tài khoản của dự án tại cơ quan thanh toán, cho vay, cấp phát vốn đầu tư. Riêng các dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư thì Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt quyết toán.

c) Đối với các công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức thì chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện việc quyết toán vốn đầu tư theo quy định của nhà nước và các quy định của Nhà tài trợ (nếu có).

1.2. Phấn Ị Thông tư số 2712007ITT-BTC (31412007) – ký hiệu là [35]. Quy định

a) Đối với các dự án quan trọng quốc gia, các dự án nhóm A gồm nhiều dự án thành phần hoặc tiểu dự án, trong đó nếu từng dự án thành phần hoặc tiểu dự án độc lập vận hành khai thác hoặc thực hiện theo phân kỳ đầu tư được ghi trong văn bản phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc báo cáo đầu tư, thì mỗi dự án thành phần hoặc tiểu dự án đó được thực hiện quyết toán vốn đầu tư như một dự án đầu tư độc lập.

b) Đối với các dự án có nhiều hạng mục công trình mà mỗi hạng mục công trình, tuỳ theo quy mô, tính chất và thời gian xây dựng công trình, chủ đầu tư có thế thực hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng cho từng hạng mục công trình hoặc toàn bộ công trình ngay sau khi hạng mục công trình, công trình hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng theo yêu cầu của người quyết định đầu tư. Giá trị đề nghị quyết toán của từng hạng mục công trình bao gồm: chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí tư vấn và các khoản chi phí khác có liên quan trực tiếp đến hạng mục đó. Sau khi toàn bộ dự án hoàn thành, chú đầu tư tống quyết toán toàn bộ dự án trình người có thấm quyền phê duyệt và phân bố chi phí chung của dự án cho từng hạng mục công trình thuộc dự án.

c) Đối với các dự án đầu tư có sử dụng vốn nước ngoài (vốn do Nhà nước báo lãnh, vốn vay, vốn viện trợ từ các Chính phủ, tổ chức, cá nhàn người nước ngoài) khi hoàn thành phải thực hiện quyết toán theo quy định cúa Thông tư này và các quy định liên quan của Điều ước quốc tế (nếu có).

d) Đối với các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) gồm nhiều họp phần, trong đó có hợp phần chi phí đầu tư xây dựng cơ bán, có hợp phần chi phí hành chính, sự nghiệp được quyết toán như sau:
– Hợp phần chi phí xây dựng cơ bản quyết toán theo quy định cụ thể của Thông tư này;
– Hợp phần chi phí hành chính, sự nghiệp quyết toán theo quy định cụ thể cứa chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp.

e) Đối với dự án của cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài, dự án có yêu cầu cơ mật thuộc an ninh quốc phòng, dự án mua sớ hữu bản quyền, việc quyết toán dự án hoàn thành được thực hiện theo quyết định riêng của Thú tướng Chính phủ trên cơ sớ đề xuất và kiến nghị của cơ quan có dự án.

f) Thông qua công tác quyết toán dự án hoàn thành nhằm đánh giá kết quá quá trình đầu tư, xác định năng lực sản xuất, giá trị tài sản mới tãng thêm do đầu tư mang lại; xác định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, các nhà thầu, cơ quan cấp vốn, cho vay, kiểm soát thanh toán, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan; đồng thời qua đó rút kinh nghiệm nhằm không ngừng hoàn thiện cơ chế chính sách của nhà nước, nâng cao hiệu quả công tác quản lý vốn đầu tư trong cả nước.

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội có sổ đỏ